Giới thiệu về hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt công suất 24m3/ngày đêm ứng dụng công nghệ AOOC. Hiện nay Việt Nam đang trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển dân cư ngày càng gia tăng, vấn đề xử lý nước thải sinh hoạt đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt công suất 24 m³/ngày được ADC Việt Nam thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý nước thải cho các khu dân cư nhỏ, nhà hàng, khách sạn mini, văn phòng hoặc cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ. Hệ thống được ứng dụng công nghệ xử lý sinh học AOOC nên có khả năng xử lý hữu hiệu nguồn nước thải sinh hoạt có hàm lượng ô nhiễm cao.

Đặc điểm nguồn nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt thường có các đặc điểm sau:
- Chứa các thành phần ô nhiễm như COD, BOD.
- Có chức nhiều các thành phần lơ lửng, dầu mỡ.
- Có chứa nhiều các loại vui khuẩn gây bệnh.
Nước thải sinh hoạt phát sinh từ các hoạt động hằng ngày như tắm giặt, vệ sinh, nấu ăn… Nếu không được xử lý đúng cách nguồn nước thải này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước.
Quy mô và công suất hệ thống
Hệ thống được thiết kế với lưu lượng xử lý 24m3/ngày đêm, phù hợp cho các công ty, xí nghiệp có từ 100 – 200 người sử dụng.
Hệ thống ứng dụng công nghệ sinh học AOOC hoạt động liên tục, giúp các chủng loại vi sinh vật được nuôi cấy phân hủy và xử lý các tạp chất có trong nguồn phát thả
Công nghệ xử lý nước thải được áp dụng là công nghệ AOOC.
Trong công nghệ xử lý nước thải hiện nay, công nghệ sinh học AOOC là công nghệ xử lý hữu hiệu nhất đối với nguồn nước thải, do hệ thống được thiết kế nhiều ngăn bể xử lý sinh học vì vậy giúp quá trình xử lý được hiệu quả hơn.
- Bể tự hoại, bể tách mỡ: có chức năng xử lý sơ bộ, lắng cặn và phân hủy thiếu khí.
- Bể gom nước thải: Có chức năng thu gom toàn bộ lượng nước thải phát sinh từ nhà máy về một điểm xử lý.
- Bể điều hòa lưu lượng: Có chức năng ổn định lưu lượng và ổn định nồng độ tính chất ô nhiễm của nước thải đầu vào, như chúng ta đã biết tính chất ô nhiễm của nước thải nhà vệ sinh và khu nấu ăn có tính chất khác nhau, vì vậy bể điều hòa giúp trung hòa tính chất nước thải cấp vào hệ thống.
- Bể sinh học thiếu khí: là đơn vị xử lý đầu tiên trong công nghệ sinh học AOOC, bể sinh học thiếu khí có chức năng phân hủy các chất có kích thước lớn chuyển hóa thành những chất có kích thước nhỏ hơn, điều này giúp cho quá trình sinh học hiếu khí phía sau dễ dàng phân hủy các hợp chất hữu cơ. Trong công nghệ xử lý nước bể thiếu khí được coi là quá trình chuyển hóa các hợp chất hữu cơ, chuyển từ thể này sang thể khác, chuyển hóa NH3, NH4 è NO2, NO3. Chuyển hoác COD thành BOD dễ phân hủy....
- Bể sinh học hiếu khí số 1: có chức năng chuyển hóa các hợp chất hữu cơ và vô cơ, sử dụng lượng khí lớn để đẩy các khi đã phân hủy ở bể thiếu khí như H2S, NO3.. ra khỏi nguồn nước thải.
- Bể sinh học hiếu khí số 2: có chức năng chuyển hóa các hợp chất hữu cơ mà bể vi sinh hiếu khí số 1 chưa xử lý hết. Hay hiểu một cách khác đây là bước xử lý tinh phía sau bể hiếu khí số 1, trong rất nhiều trường hợp khi nguồn nước qua bể hiếu khí số 1 đã được xử lý đảm bảo, nhưng cũng có rất nhiều trường hợp bể hiếu khí số 1 chưa xử lý hết các tạp chất, chính vì vậy bể hiếu khí số 2 được ra đời nhằm xử lý ổn định cho hệ thống.
- Bê lắng cặn: Có chức năng tách lượng bùn sinh học ra khỏi nước thải giúp nước thải sau xử lý không còn các cặn lơ lửng trong nước.
- Bể khử trùng: Có chức năng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh có trong nước thải trước khi xả ra ngoài môi trường
Hiệu quả xử lý

Nước thải sau xử lý đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt (QCVN 14:2008/BTNMT cột A), đảm bảo an toàn khi xả ra môi trường hoặc tái sử dụng cho mục đích tưới cây, rửa đường.
Vì sao công nghệ AOOC lại ít bùn.
Khi đi vận hành các hệ thống xử lý nước thải, có rất nhiều người thắc mắc tại sao công nghệ AOOC khi hoạt động bể vi sinh thiếu khí, bể vi sinh hiếu khí lại ít bùn vậy? Dưới đây chúng tôi xin trả lời câu hỏi trên như sau:
- Công nghệ AOOC ứng dụng nuôi cấy vi sinh trên nền vật liệu sinh học, nghĩa là toàn bộ vi sinh vật sinh trưởng và phát triển bên trong lớp vật liệu sinh học hoạt động lơ lửng trong bể.
- Các công nghệ khác như công nghệ SBR, AAO, AO.... đa phần sử dụng công nghệ nuôi cấy vi sinh lớp bùn hoạt tính, chình vì vậy khi hoạt động trong bể xử lý lượng bùn tồn tại rất nhiều, lượng bùn lơ lửng trong nước chiếm 20 – 40% chính vì vậy khi nhìn vào trong bể rất nhiều bùn lơ lửng.
- Công nghệ AOOC thì hoàn toàn khác, chúng tôi sử dụng vi sinh được nuôi cấy bên trong lớp vật liệu mang vi sinh, vì vậy lượng bùn chỉ chiếm 1 – 5% so với công nghệ khác.
- Điểm mạnh của công nghệ AOOC là lượng vi sinh được nuôi cấy sinh trưởng trong lớp vật liệu mang vi sinh, vì vậy vi khuẩn có tuổi thọ cao hơn, khỏe hơn các công nghệ nuôi vi sinh trên bùn rất nhiều.
Để bạn đọc dễ hiểu hơn chúng tôi lấy một ví dụ đơn giản như sau:
- Công nghệ AOOC: Sử dụng vật liệu mang vi sinh nghĩa là chúng tôi cung cấp một lượng giá thể vi sinh vào trong bể xử lý, Lượng giá thể mang vi sinh này được tính toán phù hợp với dung tích bể đa phần chiếm 10 – 30% dung tích bể xử lý. Các chủng vi sinh vật sẽ cư trú bên trong các vật liệu mang vi sinh này, giống như kiểu con người cũng vậy, cũng cần có đất, có nhà ở, có đất canh tác, việc cung cấp vật liệu mang vi sinh là chúng tôi đang tạo ra một nơi lý tưởng, một mảnh đất màu mỡ làm cho các vi sinh vật được nuôi cấy tìm đến và sinh trưởng, phát triển nhiều thế hệ bên trong lớp vật liẹu mang này.
- Công nghệ AO, AAO, SBR sử dụng công nghệ bùn hoạt tính, nhưng hạt bùn được sử dụng làm nơi cư trú cho các vi sinh vật, chính vì vậy lượng bùn này cần rất nhiều, vì lượng bùn là nơi bám dính cho các vi sinh vật. Vào một ngày đẹp trời nào đó, khi lượng bùn này mất đi do sốc tải, do tác động thời tiết.... lượng bùn này sẽ giảm đi rất nhiều, thiếu đi nơi cư trú của vi sinh vật và chất lượng nước sau xử lý không đáp ứng yêu cầu.
==> Từ ví dụ nêu trên chúng ta đã nhận ra được vấn đề là gì??? Là lượng bùn có trong bể xử lý nhiều hay ít là do công nghệ áp dụng. Vì công nghệ nuôi cấy vi sinh trên lớp bùn hoạt tính khác so với công nghệ nuôi cấy vi sinh trên nền vật liệu mang vi sinh. Vì vậy cần căn cứ vào công nghệ áp dụng chứ không phải cứ yêu cầu trong bể nhiều bùn thì hệ thống mới hoạt động tốt.
Công nghệ xử lý nước thải tốt không phải là bùn nhiều hay bùn ít, mà liên quan đến anh sử dụng công nghệ gì, nuôi cấy trên nền tảng gì.
Công nghệ AOOC sử dụng vật liệu mang vi sinh có diện tích bề mặt rất lớn, những hạt mút xốp được cắt thành kích thước nhỏ, điều này làm nơi cư trú của các vi sinh vật cực kỳ hiệu quả, diện tích bề mặt riêng của lớp vật liệu mang vi sinh dạng xốp từ 3000 – 9000m2/m3, vì vậy giúp tăng cường đáng kể diện tích cho vi sinh hoạt động. Lượng vật liệu mang vi sinh được tính toán từ 10 – 30% dung tích bể, điều này cũng phù hợp với tầm 20 – 40% lượng bùn lơ lửng của công nghệ bùn hoạt tính truyền thống.
Điểm khác biệt của công nghệ AOOC là nuôi cấy vì sinh trên nền vật liệu mang vi sinh, vì vậy khi nhìn vào bể xử lý lượng bùn cực ít, do vi sinh bám dính trên lớp vật liệu mang.
Ưu điểm của hệ thống ứng dụng công nghệ AOOC.
- Thiết kế nhỏ gọn, tiết kiệm diện tích
- Chi phí đầu tư và vận hành hợp lý
- Vận hành đơn giản, ít yêu cầu nhân công
- Hiệu quả xử lý cao, ổn định
- Khả năng xử lý hiệu quả hơn các công nghệ khác từ 20 – 60%.
Ứng dụng thực tế
Hệ thống xử lý nước thải 24 m³/ngày phù hợp cho:
- Khu dân cư, chung cư mini
- Nhà hàng, khách sạn nhỏ
- Trường học, văn phòng
- Cơ sở sản xuất quy mô nhỏ
Kết luận
Việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt công suất 24 m³/ngày không chỉ giúp doanh nghiệp và cá nhân tuân thủ quy định pháp luật về môi trường mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên nước, hướng tới phát triển bền vững.
Việc đầu tư hệ thống xử lý bằng công nghệ AOOC sẽ giúp chủ đầu tư tiết kiệm được nhân công vận hành, tiêu tốn điện năng thấp, mà chất lượng nước sau xử lý luôn đảm bảo an toàn.
Mọi chi tiết xin liên hệ
Công Ty TNHH Công Nghệ Môi Trường ADC Việt Nam
SDT: 033 337 5696
Website: Loccongnghiep.vn









